5 Ung Thư Ung Thư
Quả dứa hay nhiều nơi còn gọi là quả thơm trái thơm, là loại quả phổ biến trên khắp nước ta ăn ngon lại có tác dụng phòng trị bệnh ung thư, ... https://lh3.googleusercontent.com/-bif6AqbrQCc/Vnn9omlm-NI/AAAAAAAA584/vpzN2m2szJo/s72-c/phong-ngua-ung-thu-tu-qua-dua-s2955-1177-177104.ht-113110_dua.jpg

Phòng ngừa và điều trị ung thư bằng quả dứa

Quả dứa hay nhiều nơi còn gọi là quả thơm trái thơm, là loại quả phổ biến trên khắp nước ta ăn ngon lại có tác dụng phòng trị bệnh ung thư, bệnh thận, tiêu hóa kém...
 
Ăn dứa nhiều người thường có thói quen bỏ lõi vì nó hơi cứng tuy nhiên lõi dứa lại là nơi tập trung nhiều bromelin có tác dụng làm giảm di căn của các bệnh ung thư.
 
 
Ăn dứa không chỉ giúp giải nhiệt vào mùa hè, dứa còn rất giàu vitamin B1, B2, C, PP, Caroten, acid hữu cơ và các chất khoáng như sắt, canxi, phospho… Đặc biệt, trong dứa có chứa bromelin – một loại enzym giúp thủy phân protein thành các acid amin, có tác dụng tốt trong tiêu hóa.
 
Y học đã sử dụng bromelin của dứa để điều trị bệnh lý rối loạn tiêu hóa từ những năm 1963. Gần đây nó còn được chứng minh có tác dụng làm giảm di căn của các bệnh ung thư, liều dùng 200-300 mg/kg thể trọng kết hợp với hóa trị liệu, hay xạ trị. Ngoài ra Bromelin làm tăng hệ miễn dịch, ức chế quá trình viêm, làm giảm phù nề và tụ huyết, giúp mau lành sẹo.
 
Dùng quả dứa nướng với phèn chua để chữa sỏi thận là bài thuốc đơn giản nhiều người đã biết nhưng trong y học cổ truyền và trong dân gian cũng có nhiều bài thuốc sử dụng dứa như dùng rễ dứa làm thuốc lợi tiểu, chữa tiểu tiện khó; dùng dịch ép quả dứa chưa chín làm thuốc tẩy nhuận tràng, dùng nõn lá dứa non đem sắc uống (hoặc giã ép lấy nước) làm thuốc chữa sốt; quả dứa chín nướng cháy, gọt bỏ vỏ, mỗi ngày ăn 1 quả, ăn trong 4 ngày để chữa huyết áp cao…

Theo Health, dứa là loại trái cây nhiều nước, có lợi cho hệ tiêu hóa nhờ thành phần men làm thức ăn dễ tiêu, giúp dạ dày phân hủy protein. Đặc biệt sau khi ăn nhiều dầu, mỡ, thịt, tráng miệng với một miếng dứa sẽ rất có lợi cho cơ thể. Các thành phần trong trái cây này còn có tác dụng lợi tiểu, chữa viêm, phù thũng, cải thiện bệnh cao huyết áp, hỗ trợ điều trị viêm phế quản.

Một số mẹo chữa bệnh bằng dứa:
 
1. Bị cảm nóng, dùng một trái dứa ép lấy nước, hòa với nước sôi để nguội uống vài lần giúp cơ thể phục hồi rất nhanh.

2. Viêm ruột, tiêu chảy: Lấy 120 g thịt dứa, 30 g mật ong, 30 g lá tỳ bà. Cho tất cả vào ấm sắc uống.

3. Tẩy nhuận trường: Ép lá và thịt dứa lấy nước cốt uống.

4. Sốt: Giã nát 30 g lá dứa non, lọc lấy nước cốt uống.

5. Khi bị rối loạn tiêu hóa, dùng một trái dứa (thơm) và 2 trái quýt ép lấy nước uống sẽ cải thiện được triệu chứng.

Meo hay chua benh bang qua dua  anh 1
Dứa là loại trái cây nhiều nước, có lợi cho hệ tiêu hóa nhờ thành phần men làm thức ăn dễ tiêu, giúp dạ dày phân hủy protein (Ảnh minh họa: Internet)
 
6. Uống mỗi ngày một ly nước ép dứa có tác dụng phòng ung thư. Các nhà khoa học đã tìm thấy hai phần tử CCZ và CCS trong nước dứa có khả năng tấn công các tế bào bệnh, kìm hãm khả năng di căn của các loại ung thư vú, phổi, đại tràng, buồng trứng...

Bạn có biết rằng thịt làm sẵn và xúc xích có thể gây ung thư? Các chuyên gia y tế toàn cầu khuyến cáo các loại thịt chế biến sẵn đe dọa sức ... https://lh3.googleusercontent.com/-TJ5B4cwEUDM/Vi2-0OHLGpI/AAAAAAAA17I/JPTmCw_KEyU/s72-c/saucisses-cuites-4776-1445833414.jpg

Thịt làm sẵn, xúc xích có thể gây ung thư

Bạn có biết rằng thịt làm sẵn và xúc xích có thể gây ung thư? Các chuyên gia y tế toàn cầu khuyến cáo các loại thịt chế biến sẵn đe dọa sức khỏe và có khả năng gây ung thư tương tự thuốc lá.


Làm thế nào để xác thực thông tin trên là đúng? Telegraph đưa tin, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vừa công bố một bản báo cáo nêu rõ sự nguy hiểm của thịt chế biến sẵn. Theo đó loại thực phẩm này chứa các chất có thể gây ung thư trong khi thịt đỏ vốn bị cho là không tốt cho sức khỏe. Thịt chế biến sẵn rất có thể sẽ bị xếp vào nhóm "gây ung thư cho con người" cùng với rượu, amiăng, thạch tín và thuốc lá.


Ảnh:  saint-vincentbio.com.

Bệnh ung thư ở người trẻ có triệu chứng như thế nào? Nốt ruồi thay đổi màu sắc hoặc kích thước, sụt cân nghiêm trọng, xuất hiện khối u ở bất... https://lh3.googleusercontent.com/-x2sjtdxYjZ8/Vg5Nmu2-m-I/AAAAAAAAvUc/sj83JKVpsMU/s72-c/5-dau-hieu-canh-bao-ung-thu-o-nguoi-tre-3289186.ht-not-ruoi-8304-1443769696.jpg

Những dấu hiệu cảnh báo ung thư người trẻ nên biết

Bệnh ung thư ở người trẻ có triệu chứng như thế nào? Nốt ruồi thay đổi màu sắc hoặc kích thước, sụt cân nghiêm trọng, xuất hiện khối u ở bất kỳ nơi đâu trên cơ thể... là những dấu hiệu cảnh báo sớm ung thư.

Triệu chứng ung thư ở lứa tuổi thiếu niên thường dễ bị nhầm lẫn. Gần 1/3 bệnh nhân bỏ lỡ những dấu hiệu ban đầu của bệnh. Theo Headlines News , khoảng 2.500 người độ tuổi 13 đến 24 được chẩn đoán mắc bệnh ung thư mỗi năm ở Anh. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người trẻ nước này, chiếm 9% ca nam giới và 15% trường hợp phụ nữ chết trong độ tuổi 15-24.

Triệu chứng ung thư ở tuổi thiếu niên thường dễ bị nhầm lẫn với các bệnh thông thường khác. Gần 1/3 bệnh nhân bỏ lỡ những dấu hiệu ban đầu của ung thư và được chẩn đoán ở giai đoạn muộn với các triệu chứng đã chuyển biến nặng.

su thay doi trong mot not ruoi la mot trong nhung nam dau hieu dau cua benh ung thu o nguoi tre tuoi Anh headlinesnews
Sự thay đổi của nốt ruồi là dấu hiệu cảnh báo ung thư. Ảnh: headlinesnews

Một phân tích mới cho thấy trẻ em tiếp xúc nhiều với thuốc xịt côn trùng trong nhà sẽ dễ mắc bệnh máu trắng và u lympho. Ảnh: Asiao... http://lh3.googleusercontent.com/-5T-6_ETrXb4/VgEN7_GSuJI/AAAAAAAAt0U/F7-Ubap7Z_k/s72-c/thuoc-xit-con-trung-lam-tang-nguy-co-ung-thu-o-tre-pesticide-shutterstock-4583-1442888145.jpg

Trẻ nhỏ dễ mắc ung thư vì thuốc diệt côn trùng

Một phân tích mới cho thấy trẻ em tiếp xúc nhiều với thuốc xịt côn trùng trong nhà sẽ dễ mắc bệnh máu trắng và u lympho.
pesticideshutterstock45831442888145j
Ảnh: Asiaone.

Nghiên cứu được tiến hành dựa trên dữ liệu ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Australia, cho thấy cần hạn chế tối đa sử dụng thuốc xịt côn trùng ở gia đình và trường học. "Nếu bạn xịt thuốc ở những nơi trẻ thường xuyên lui tới, nguy cơ bệnh tật là rất đáng lo ngại", Chensheng Lu, giáo sư thuộc nhóm tác giả đến từ Đại học Havard (Mỹ) cho biết. Kết quả nghiên cứu chỉ ra trẻ tiếp xúc nhiều với các chất hóa học này có tỷ lệ mắc bệnh máu trắng cao hơn 47% và u lympho cao hơn 43%.

Các nhà khoa học giải thích, trẻ em có thói quen đưa tay lên miệng vô tình khiến cho thuốc bám trên bề mặt da vào cơ thể. Không giống như người lớn, cơ thể của trẻ nhỏ chưa đủ sức để bài tiết mọi chất độc dẫn đến các vấn đề về đường hô hấp, dạ dày, hệ thần kinh và nội tiết tố. Trước đó đã có một bé trai 7 tuổi người Italy tử vong vì bố mẹ phun quá nhiều thuốc trong nhà. Trao đổi với Reuters , giáo sư Lu nói: "Trường hợp này chính là lời cảnh báo về tác hại của thuốc xịt côn trùng".

Vị giáo sư kết luận, những hóa chất được tạo ra để giết côn trùng không thể nào không gây hại cho sức khỏe con người. Ông khuyến cáo phụ huynh phải hết sức cẩn thận và tuyệt đối không phun thuốc trong nhà ở để bảo vệ sức khỏe con em.

Minh Nguyên

Theo suckhoe.vnexpress.net
Giảm cân không rõ nguyên nhân, chán ăn, buồn nôn, thỉnh thoảng nôn, sức khỏe giảm sút, thường xuyên mệt mỏi, phù chân, có ... https://lh3.googleusercontent.com/-8w78-D_zNSA/VdYqbhCKPqI/AAAAAAAAh_4/zf31fnMknFU/s72-c/canh-giac-nhung-dau-hieu-ung-thu-gan-3265714.html-ung-thu-gan-6316-1439884562.jpg

Cảnh giác những dấu hiệu ung thư gan

Giảm cân không rõ nguyên nhân, chán ăn, buồn nôn, thỉnh thoảng nôn, sức khỏe giảm sút, thường xuyên mệt mỏi, phù chân, có dịch trong ổ bụng, vàng da... là những triệu chứng thường gặp của ung thư gan.


ungthugan63161439884562jpg
Ảnh minh họa: Health .

Theo bác sĩ Ang Peng Tiam, Bệnh viện Mount Elizabeth, Singapore, ung thư gan là loại ung thư phổ biến, xếpthứ 5 trên thế giới, gây ra hơn 600.000 ca tử vong hằng năm. Bệnh rất thường gặp ở châu Á vớitỷ lệ mắc mới không giảm trong hơn chục năm qua. Thống kê cho thấy, số bệnh nhânnam nhiều gấp 4 lần nữ.

Bác sĩ giải thích: Gan là nội tạng lớn nhất trong cơ thể, thực hiện nhiều chức năng thiết yếu của sự sống. Ung thư gan xuất phát từ các tế bào gan là loại phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% tổng số ca ung thư gan nguyên phát tại châu Á. Các dạng ung thư nguyên phát khác ít phổ biến hơn như ung thư đường mật và nguyên bào gan. Ung thư gan cũng có thể do di căn từ ung thư ở các cơ quan khác trong cơ thể như phổi, đại tràng, dạ dày hoặc tụy.

Bệnh thường gặp ở những người bị tổn thương gan kéo dài như viêm gan B hay C mạn tính, xơ gan (do gan nhiễm mỡ, uống bia rượu nhiều). Ung thư gan nguyên phát có xu hướng ảnh hưởng đến những người tuổi trung niên và lớn tuổi, phổ biến ở nam giới hơn phụ nữ. Những yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư gan bao gồm nhiễm virus viêm gan B hoặc C mạn tính, uống bia rượu quá nhiều, béo phì, hút thuốc lá, nhiễm độc tố aflatoxins (tìm thấy trong các loại hạt và đậu bị lên mốc).

Các chuyên gia bệnh lý ung thư gan cảnh báo, rất khó để nhận biết các dấu hiệu sớm của ung thư gan. Đến khi có các dấu hiệu và triệu chứng, bệnh thường đã ở giai đoạn tiến triển. Một số triệu chứng thường gặp của ung thư gan là giảm cân không rõ nguyên nhân, chán ăn, buồn nôn, thỉnh thoảng nôn, sức khỏe giảm sút và thường xuyên mệt mỏi, phù chân, có dịch trong ổ bụng, vàng da. Hầu hết các triệu chứng này không đặc hiệu, dễ bị nhầm với các bệnh lý khác, do đó, khi có các dấu hiệu này,tốt nhất bạn nên đến gặp bác sĩ chuyên khoa để khám và loại trừ các nguyên nhân khác trước khi nghĩ đến ung thư gan.

Trong quá trình thăm khám, nếu nghi ngờ bệnh nhân bị ung thư gan, các bác sĩ sẽ hỏi thêm về tiền sử bệnh cá nhân và gia đình cùng những yếu tố nguy cơ khác. Sau đó, nếu cần thiết sẽ thực hiện các xét nghiệm khác để truy tìm ung thư gan sẽ được thực hiện bao gồm Alpha-fetoprotein (AFP) trong máu, siêu âm, CT, PET-CT, MRI và sinh thiết gan.

Việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi tác, sức khỏe tổng quát, giai đoạn ung thư, vị trí khối u. Bệnh được phát hiện ở giai đoạn càng sớm thì hiệu quả chữa trị càng cao. Trong đó, phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc ghép gan mới đem lại cơ hội chữa khỏi bệnh. Các phương pháp điều trị khác chỉ làm giảm bớt hoặc kiểm soát khối u mà thôi.

Bác sĩ Ang khuyên mọi người nên chú ý bảo vệ gan và phòng tránh ung thư bằng cách: Hạn chế uống bia rượu, không hút thuốc, tiêm vắc xin ngừa viêm gan B cho mình và gia đình, duy trì lối sống khỏe mạnh, tránh thừa cân.

Thi Ngoan

Theo suckhoe.vnexpress.net
Ung Thư là gì ? Ung thư là một bệnh của các tế bào, vốn là những đơn vị cấu trúc cơ bản của cơ thể. Cơ thể chúng ta liên tục sản xuất ra... http://lh3.googleusercontent.com/-o3Ib66WThso/VdMmvZgk5lI/AAAAAAAAhhM/HJCfh0nzhVM/s72-c/ung-thC6B0-la-gi-whatiscancer_image001.gif

Ung thư là gì?

Ung Thư là gì ? Ung thư là một bệnh của các tế bào, vốn là những đơn vị cấu trúc cơ bản của cơ thể. Cơ thể chúng ta liên tục sản xuất ra các tế bào để giúp chúng ta phát triển, để thay thế những tế bào đã chết, hoặc hàn gắn lại những tế bào bị tổn thương sau một chấn thương. Các gen nào đó kiểm soát quá trình này và chính việc gây tổn hại những gen này dẫn đến các bệnh ung thư.Sự tổn hại này thường xảy ra trong cuộc đời con người, mặc dù có một số nhỏ lại thừa hưởng những gen này từ cha mẹ họ. Bình thường thì các tế bào phát triển và nhân lên theo một trình tự. Tuy nhiên, những gen đã bị tổn hại có thể phát triển không bình thường. Chúng có thể phát triển thành những khối gọi là u/bướu.


Ung thư (cancer) là tên dùng chung để mô tả một nhóm các bệnh phản ảnh những sự thay đổi về sinh sản, tăng trưởng và chức năng của tế bào. Các tế bào bình thường trở nên bất thường (đột biến) và tăng sinh một cách không kiểm soát, xâm lấn các mô ở gần (xâm lấn cục bộ) hay ở xa (di căn) qua hệ thống bạch huyết hay mạch máu. Di căn là nguyên nhân gây tử vong chính của ung thư. Những thuật ngữ khác của ung thư là  khối u ác tính hoặc tân sinh ác tính (malignant neoplasm).

Thông thường, các tế bào lành có một tuổi thọ nhất định và tuân thủ theo một quy luật chung là phát triển - già - chết. Các tế bào chết đi lại được thay thế bằng các tế bào mới. Cơ thể có một cơ chế kiểm soát quy luật này một cách chặt chẽ và duy tŕ số lượng tế bào ở mỗi cơ quan, tổ chức ở mức ổn định. Bệnh ung thư bắt đầu khi có một tế bào vượt qua cơ chế kiểm soát này của cơ thể, bắt đầu phát triển và sinh sôi không ngừng nghỉ, h́nh thành một đám tế bào có chung một đặc điểm phát triển vô tổ chức, xâm lấn và chèn ép vào các cơ quan và tổ chức xung quanh.

Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào. Khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể.

Đa số người bệnh ung thư đều hình thành các khối u. U ác tính hoàn toàn khác với khối u lành tính.

U lành tính: chỉ phát triển tại chổ thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh nên ranh giới rõ, mật độ thường mềm hoặc chắc, không xâm lấn, không di căn, khi bóc đi sẽ khỏi bệnh.

U ác tính: thường phát triển nhanh, u thường không có ranh giới rõ, xâm lấn ra xung quanh và thường di căn xa theo đường bạch mạch và đường máu.

Đa số các bệnh ung thư thường có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát sinh và phát triển lâu dài qua nhiều giai đoạn trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em tiến triển nhanh do đột biến gien từ lúc bào thai.
Ung thư là tên chung dùng để gọi một nhóm bệnh trên 200 loại khác nhau về nguồn gốc của tế bào, căn nguyên, tiên lượng và cách thức điều trị nhưng có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm soát được của tế bào, khả năng tồn tại và phát triển ở các cơ quan và tổ chức lạ.

Các ung thư thường phát triển từ một tế bào ban đầu và phải mất nhiều năm cho tới khi có một kích thước đủ lớn để có thể nhận thấy được. Quá tŕnh phát triển từ một tế bào duy nhất thành một khối ung thư trải qua nhiều giai đoạn.

Các tế bào ung thư có liên kết lỏng lẻo, dễ dàng bứt ra khỏi khối u mẹ, theo mạch máu và mạch bạch huyết di cư đến các tổ chức và cơ quan mới, bám lại và tiếp tục sinh sôi nẩy nở (quá tŕnh này gọi là “di căn”). Các ung thư chèn ép hoặc di căn vào các cơ quan giữ chức năng sống của cơ thể như năo, phổi, gan, thận… bệnh nhân sẽ tử vong.

Nguyên nhân ung thư

Ung thư xuất phát từ một tế bào đơn lẻ, đơn vị cơ bản của sự sống. Sự chuyển dạng từ một tế bào bình thường thành một tế bào ung thư là một quá trình nhiều giai đoạn, từ một tổn thương tiền ung thư đến khối u ác tình. Những thay đổi này là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố di truyền của một người và ba loại tác nhân bên ngoài, bao gồm:

Các tác nhân sinh ung vật lý, như tia cực tím và bức xạ ion hóa;

Các tác nhân sinh ung hóa học, như a-mi-ăng (asbestos), các thành phần của khói thuốc lá, aflatoxin (một chất nhiễm bẩn thức ăn), và arsenic (một chất nhiễm bẩn nước uống); và

Các tác nhân sinh ung sinh học, như nhiễm trùng một số virus, vi khuẩn hay ký sinh trùng

Những khối u có thể lành tính (không phải ung thư) hoặc ác tính (ung thư). Những khối u lành tính không xâm lấn vào các cơ quan và các mô xung quanh của cơ thể.

Trong khi u ác tính sẽ phát triển, nó có thể giới hạn trong khu vực ban đầu. Nếu những tế bào này không được xử lý hay điều trị, chúng có thể xâm lấn ra ngoài phạm vi ban đầu và xâm lấn vào những mô xung quanh, trở thành ung thư xâm lấn.

Tế bào bình thường Tế bào không bình thường Tế bào không bình thường nhân lên Ung thư ác tính hoặc xâm lấn

Ranh giới


Mạch bạch huyết

Mạch máu

Một số u lành tính là tiền ung thư và có thể tiến triển thành ung thư nếu không được điều trị. Nhưng đa số u lành tính không phát triển thành ung thư.

Ung thư xâm lấn như thế nào


Ung thư ban đầu

Xâm lấn cục bộ

Sự hình thành mạch – Những khối u phát triển các mạch máu của chúng

Mạch bạch huyết

Ranh giới

Di căn – Những tế bào di chuyển từ u ban đầu và xâm lấn những phần khác của cơ thể qua mạch máu và mạch bạch huyết

Mạch máu

Để một bệnh ung thư phát triển to hơn đầu đinh ghim, nó sẽ phải phát triển trong chính mạch máu của nó. Đôi khi các tế bào tách khỏi khối ung thư ban đầu, xuôi theo dòng bạch huyết hoặc theo dòng máu để tới những cơ quan khác của cơ thể. Khi những tế bào này tới vùng mới, chúng có thể tiếp tục phát triển và tạo ra một khối u tại vùng đó. Cái này gọi là ung thư thứ phát hay di căn.

Phòng ngừa được nhiều loại ung thư

Do biết được nguyên nhân gây ung thư chủ yếu do môi trường ngoài (80%) nên có thể chủ động phòng ngừa được bằng các biện pháp tích cực như:

Ngăn chặn các tác nhân tác động từ bên ngoài.

Ngừng hút thuốc lá.

Chế độ dinh dưỡng vệ sinh an toàn hợp lý.

Chống lạm dụng các hóa chất công nghiệp, ô nhiểm môi trường, phòng các bệnh nghề nghiệp.

Một số ung thư có liên quan đến virút, co thể phòng ngừa bằng tiêm vaccine đặc biệt là vaccine phòng viêm gan B.

Tích cực điều trị các tổn thương tiền ung thư.

Sàng lọc phát hiện sớm để điều trị ở giai đoạn sớm các ung thư như ung thư vú, cổ tử cung, khoang miệng, đại trực tràng.

Điều trị bệnh ung thư ở giai đoạn sớm

Do không nắm được bệnh lý của ung thư nên trong nhân dân trước đây và hiện nay đang có một số quan niệm sai lầm: bệnh ung thư là vô phương cứu chữa, không được dùng dao kéo để điều trị. Quan niệm này cũng bắt nguồn từ một thực tế khách quan là từ trước đến nay phần lớn bệnh nhân đến khám và điều trị ở giai đoạn muộn nên không có chỉ định phẫu thuật triệt để hoặc phẫu thuật sai kỹ thuật.

Trên thực tế ở các nước có nền y học tiên tiến, phần lớn bệnh nhân đến khám và điều trị ở các giai đoạn sớm nên 50% bệnh nhân được chữa khỏi bệnh.

Hy vọng trong tương lai không xa với sự hiểu biết của người dân được nâng cao, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật sẽ có 3/4 bệnh nhân ung thư được chữa khỏi.

Blogsudo Tổng Hợp

Thói quen sống lành mạnh có thể giúp giảm một nửa số ca tử vong do bệnh ung thư , theo Hiệp hội Ung thư Mỹ. Dưới đây là 9 điều bạn cần ... http://lh3.googleusercontent.com/-lr9bG_eCx5Q/VawsDRCAYhI/AAAAAAAAYNY/W0w8LOtXhC8/s72-c/9-dieu-nen-va-khong-nen-lam-de-giam-nguy-co-mac-un-ungthu1-1775-1437295247.jpg

Để giảm nguy cơ ung thư nên và không nên làm gì?

Thói quen sống lành mạnh có thể giúp giảm một nửa số ca tử vong do bệnh ung thư, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ. Dưới đây là 9 điều bạn cần thay đổi trong lối sống để giúp giảm nguy cơ mắc căn bệnh chết người này.

Những lời khuyên này của tiến sĩ Anne McTiernan, một chuyên gia về bệnh ung thư tại Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson tại Seattle, Mỹ:

Không hút thuốc hay bất cứ sản phẩm nào khác của thuốc lá

Khói thuốc gây ra một loạt các bệnh ung thư gồm phổi, miệng, họng, thực quản và dạ dày, theo Viện nghiên cứu Ung thư. Nó cũng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sinh non và những ca tử vong có thể phòng tránh được tại Mỹ. Tiến sĩ McTinernan khuyến cáo: "Nếu bạn từng thử bỏ thuốc, vậy hãy tiếp tục kiên trì, rồi một ngày sẽ có kết quả".

Khám sàng lọc ung thư định kỳ

Khám sàng lọc có thể giúp phát hiện một số bệnh ung thư như đại tràng, vú, tuyến tiền liệt, cổ tử cung và da. Bạn hãy tư vấn với bác sĩ để biết ở độ tuổi nào nên bắt đầu khám và định kỳ bao lâu. Nếu bạn chưa có biểu hiện gì bất thường, việc phát hiện sớm bệnh ung thư cũng giúp tăng khả năng điều trị, thậm chí là chữa khỏi bệnh. Việc khám sàng lọc này có thể gồm kiểm tra tổng thể, xét nghiệm máu, xét nghiệm gene, chụp X-quang, siêu âm...

ungthu117751437295247jpg
Một số loại quả giúp ngăn ngừa bệnh ung thư. Ảnh: Netdna.

Hạn chế uống rượu

Điều này có nghĩa là mỗi ngày bạn không nên uống quá 2 ly rượu với nam giới và một ly với nữ. Người lạm dụng chất có cồn có nguy cơ bị ung thư miệng cao gấp 6 lần những người không uống, theo nghiên cứu của Hiệp hội Ung thư Mỹ.

Bảo vệ da khỏi tác động của ánh nắng mặt trời

Tia cực tím làm tổn thương ADN của các tế bào da và có thể gây đột biến gene, nguy cơ dẫn đến ung thư da, theo Hội Ung thư da Mỹ. Vì thế, bạn hãy chú ý sử dụng kem chống mỗi khi đi ngoài đường, sử dụng loại có SPF từ 30 trở lên, có tác dụng bảo vệ da khỏi tác động của tia UVA và UVB. Bên cạnh đó, cũng đừng quên đội mũ rộng vành và đeo kính râm.

Chăm chỉ tập thể dục

Các nghiên cứu chỉ ra rằng những người thường xuyên vận động có ít nguy cơ bị ung thư đại tràng và vú hơn người lười vận động, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ. Bạn không cần thiết phải luyện tập giống như các vận động viên thể thao, thay vào đó có thể đi bộ nhanh, đạp xe, khiêu vũ hoặc bất cứ môn thể thao giúp tăng nhịp tim và đổ mồ hôi.

Duy trì cân nặng ở mức có lợi cho sức khỏe

Điều này có nghĩa là bạn nên duy trì chỉ số khối cơ thể BMI ở mức 25 hoặc thấp hơn. Tăng chỉ số BMI có thể dẫn tới bệnh ung thư đại tràng, các bệnh túi mật, thận, thực quản, tuyến giáp, theo một nghiên cứu năm 2008.

Tránh sử dụng liệu pháp thay thế hoócmôn để giảm bớt những ảnh hưởng của thời kỳ mãn kinh

Một số các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc gia tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung với việc sử dụng hoócmôn, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ. Nếu cần phải dùng thì hãy hạn chế liều sử dụng dưới 5 năm.

Tránh tiếp xúc trực tiếp với các chất gây ung thư

Phơi nhiễm phóng xạ và một số hóa chất có thể gây bệnh ung thư. Lấy ví dụ, bức xạ ion hóa đến từ các kia gamma, tia UV và X-quang liều cao có thể dẫn đến ung thư phổi, da, tuyến giáp, vú và dạ dày.

Có chế độ ăn hợp lý

Vai trò của chế độ ăn với các bệnh lý ung thư từ lâu đã được các nhà khoa học biết đến. Một chế độ ăn thiên về thực vật có thể giúp giảm nguy cơ mắc một số ung thư nhất là ung thư đại tràng.

Lời khuyên là bạn không nên ăn nhiều hơn 100 g thịt đỏ mỗi ngày, tránh các loại thịt đã chế biến sẵn như xúc xích và thịt hun khói. Ăn nhiều loại rau và hoa quả khác nhau mỗi ngày; đồng thời hạn chế uống đồ uống có đường, kẹo, khoai tây chiên...

Phương Trang

(Theo Foxnews )

Theo suckhoe.vnexpress.net
Từ khóa tìm kiếm: the giup giam, ca tu vong, benh ung thu, giup giam nguy co mac, nghien cuu ung thu, da day, tu, kham sang loc, han che uong, co nghia, ban khong nen, nguy co bi ung thu, the gay, dan den ung thu, ung thu da,
Hạn chế các loại thức ăn có nhiều dầu mỡ và nhiều gia vị. Kiêng sữa và các sản phẩm từ sữa như bơ, phô mai, sữa chua. Không gãi hay chà ... https://lh3.googleusercontent.com/-X79TsCC6ICY/VasRV0h1CqI/AAAAAAAAXzs/_EnkDAY-Ys8/s72-c/cham-soc-sau-xa-tri-nguoi-benh-ung-thu-truc-trang--thuc-pham-dau-mo-jpeg-8223-1437234786.jpg

Chăm sóc sau xạ trị người bệnh ung thư trực tràng

Hạn chế các loại thức ăn có nhiều dầu mỡ và nhiều gia vị. Kiêng sữa và các sản phẩm từ sữa như bơ, phô mai, sữa chua. Không gãi hay chà xát, không thoa hay bôi các loại nước hoa hay mỹ phẩm lên vùng da chiếu tia.

Phó giáo sư, bác sĩ Cung Thị Tuyết Anh, Bệnh viện Ung bướu TP HCM, cho biết, xạ trị là dùng các chùm tia năng lượng mạnh (ví dụ tia X), chiếu vào khối bướu để giết các tế bào ung thư. Hóa trị trong lúc xạ trị có thể làm cho tác dụng của xạ trị mạnh hơn nên hiện nay người ta thường dùng kết hợp.

Xạ trị chỉ dùng trong một số rất ít ung thư đại tràng. Xạ trị và nhất là hóa - xạ trị đồng thời là một phần trong điều trị ung thư trực tràng. Đối với ung thư trực tràng, hóa - xạ trị có thể được dùng trước hoặc sau mổ, nhằm làm giảm khả năng bướu tái phát tại chỗ.

Ngày nay các bác sĩ thường hóa - xạ trị trước mổ, giúp cuộc mổ sau đó dễ dàng hơn, đặc biệt khi bướu ban đầu có kích thước lớn.  Một số ít trường hợp bướu nằm thấp gần hậu môn, nếu mổ ngay, nhiều khả năng phải cắt bỏ hậu môn, và bệnh nhân sẽ phải mang hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Nếu hóa - xạ trị đồng thời trước mổ, bướu có thể thu nhỏ kích thước đáng kể, có thể chỉ cắt đoạn ruột mang bướu và nối ruột lại. Như vậy bệnh nhân tránh không phải mở hậu môn ra da.

Theo phó giáo sư Tuyết Anh, khoảng 20% số bệnh nhân dự kiến phải cắt bỏ trực tràng và hậu môn có thể bảo tồn được hậu môn sau hóa - xạ trị trước mổ. Trường hợp ung thư trực tràng lan rộng tại chỗ, không còn phẫu thuật được, xạ trị chỉ còn mang tính chất điều trị giảm nhẹ.

Anh hubspot
Bệnh nhân xạ trị ung thư nên hạn chế các loại thức ăn có nhiều dầu mỡ và nhiều gia vị. Ảnh minh họa: hubspot

Liệu trình hóa - xạ trị 

Xạ trị thường kéo dài 5 tuần, mỗi tuần 5 ngày (thứ hai đến thứ sáu).

- Nếu là hóa trị loại truyền tĩnh mạch, được sử dụng trong 4 ngày đầu và 4 ngày cuối của cuộc xạ trị.

- Nếu là hóa chất loại thuốc viên, bệnh nhân uống trong những ngày có xạ trị.

Xạ trị có thể gây những khó chịu

Tác dụng phụ sớm: mệt mỏi, viêm da vùng xạ (ngứa, đỏ da, sạm da), có thể gặp ở bệnh nhân thừa cân, viêm rát da hậu môn, rối loạn tiêu hóa (ăn không ngon, buồn nôn, đau quặn bụng, mắc đi cầu liên tục, tiêu chảy), rối loạn đi tiểu (tiểu gắt, tiểu lắt nhắt). Các tác dụng phụ sớm thường xảy ra vào những tuần cuối của quá trình xạ trị và giảm nhanh trong 2-6 tuần sau khi kết thúc xạ trị.

Tác dụng phụ muộn: Thường bị vô sinh sau xạ, ảnh hưởng đến “quan hệ vợ chồng”.

Làm gì để giảm bớt khó chịu do việc điều trị

Để giảm mệt mỏi cần nghỉ ngơi và ngủ đầy đủ.

- Tập thể dục đều đặn, nhẹ nhàng.

- Ăn uống đầy đủ các chất, không kiêng khem.

Làm thế nào để giảm gây tổn thương do xạ trị

Đối với vùng da bị chiếu tia:

Không gãi hay chà xát, không thoa hay bôi các loại nước hoa hay mỹ phẩm (trừ các loại thuốc thoa do bác sĩ chỉ định). Không dán băng keo, không cạo lông, không nên mặc các loại quần lót và quần ngoài quá bó chặt. Nên tắm nước ấm và sử dụng xà bông trung tính.

Để giảm đau quặn bụng và tiêu chảy:

- Hạn chế các loại thức ăn có nhiều dầu mỡ và nhiều gia vị (tiêu, ớt…).

- Kiêng sữa và các sản phẩm từ sữa như bơ, phô mai, sữa chua.

- Hạn chế ăn rau sống (nên nấu chín).

- Hạn chế một số thức ăn gây đầy hơi và tăng xì hơi, như tinh bột, đậu, bắp, nước uống có ga. Mỗi ngày nên ăn 5-6 bữa ăn nhỏ thay vì chỉ ăn 3 bữa chính. Không nên ăn quá no.

- Cần đi gặp bác sĩ khi bị tiêu lỏng trên 3 lần mỗi ngày hoặc tiêu phân có nhầy, có máu; khi tiểu gắt buốt, tiểu ra máu.

Triệu chứng sốt: 

Sốt hiếm xảy ra khi hóa - xạ trị ung thư trực tràng. Nếu sốt sau truyền hóa chất, cần đến gặp bác sĩ để xử trí thích hợp.

Vấn đề sinh đẻ:

Đối với bệnh nhân nam: Xạ trị vào vùng chậu có thể làm người nam xuất tinh mà không có tinh trùng, thường kéo dài 1-2 tháng sau xạ. Nếu bệnh nhân muốn có con sau xạ trị, nên gặp bác sĩ để được tư vấn về việc gửi tinh trùng vào ngân hàng trữ tinh trùng.

Đối với bệnh nhân nữ: Không được có thai trong lúc xạ trị vì tia phóng xạ sẽ gây hư thai hoặc quái thai. Nếu bệnh nhân có ý định có con thì cần gặp bác sĩ để được tư vấn. Xạ trị vùng chậu sẽ làm hai buồng trứng ngưng hoạt động (mất kinh, mãn kinh sớm) và làm xơ teo tử cung

Vấn đề quan hệ vợ chồng:

Bệnh nhân thường cảm thấy giảm ham muốn trong thời gian đang và sau xạ trị. Người nữ thường gặp khó khăn khi giao hợp do âm đạo bị khô, ngứa hoặc rát. Nên gặp bác sĩ để được tư vấn dùng thuốc.

Phó giáo sư Tuyết Anh khuyến cáo, nên gặp trực tiếp bác sĩ điều trị để được tư vấn. Không nên nghe các hướng dẫn thiếu chính xác và phi khoa học từ người chung quanh không có chuyên môn. Sau đợt hóa - xạ trị trước mổ, bướu có thể thu nhỏ đi rất nhiều. Một số bệnh nhân có tâm lý quá lạc quan và không muốn mổ nữa. Điều này rất nguy hiểm vì bướu chỉ tạm thời đáp ứng. Nếu không phẫu thuật, bướu sẽ tiến triển lại sớm.

Lê Phương

Theo suckhoe.vnexpress.net
Các chuyên gia y tế Anh đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ ung thư khi ăn khoai tây chiên và các thực phẩm chiên rán khác vì chúng chứa một ... https://lh3.googleusercontent.com/-TjVxvWc9OE4/Vab51w7G-7I/AAAAAAAAWjg/ykZxL4ZMxy8/s72-c/khoai-tay-chien-co-chat-gay-ung-thu-nhu-khoi-thuoc-khoai-14715a-e20ab.jpg

Khoai tây chiên có chất gây ung thư như khói thuốc lá

Các chuyên gia y tế Anh đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ ung thư khi ăn khoai tây chiên và các thực phẩm chiên rán khác vì chúng chứa một chất có hại gặp trong khói thuốc lá. Cơ quan An toàn thực phẩm châu Âu mới đây đã công bố nghiên cứu xác nhận rằng chất acrylamide (AA) - hình thành khi nấu thực phẩm ở nhiệt độ cao – là một nguy cơ gây ung thư.

Cảnh báo nêu rõ: “AA hình thành trong nhiều loại thực phẩm giàu tinh bột khi nướng hoặc chiên, bao gồm khoai tây chiên, bim bim khoai tây, bánh mì, bánh qui và cà phê. AA cũng được biết là có mặt trong khói thuốc lá”.

Khoảng 51% tổng lượng phơi nhiễm acrylamide ở trẻ em là từ bim bim khoai tây, khoai tây nướng và khoai tây tẩm bột rán.

Cục Tiêu chuẩn thực phẩm Anh đã khuyên các gia đình chỉ chiên khoai tây đến khi có màu vàng nhạt và cảnh báo “chỉ nướng bánh mì đến màu nhạt nhất có thể được”.

Lua chon thuc pham va phoi nhiem acrylamide
Lựa chọn thực phẩm và phơi nhiễm acrylamide

Acrylamide chủ yếu được thấy trong các thực phẩm có nguồn gốc thực vật, như khoai tây, ngũ cốc và cà phê. Acrylamide không có trong thịt, sữa hoặc hải sản.

Acrylamide thường có trong những thực phẩm có nguồn gốc thực vật được chế biến ở nhiệt độ cao (như rán, nướng và bỏ lò), không có trong thực phẩm sống hoặc được nấu bằng cách hấp hay luộc.

Một số thực phẩm chứa nhiều acrylamide hơn, bao gồm khoai tây (nhất là khoai tây chiên và bim bim khoai tây), cà phê và thực phẩm từ ngũ cốc

Cac phuong phap bao quan va che bien thuc pham
Các phương pháp bảo quản và chế biến thực phẩm

So sánh chiên (rán), nướng và bỏ lò thì chiên rán gây ra sự hình thành acrylamide cao nhất. Khoai tây cắt miếng nướng tạo ra ít acrylamide hơn, tiếp theo là khoai tây nguyên củ bỏ lò. Khoai tây luộc và khoai tây nguyên củ nướng trong lò vi sóng để làm “khoai tây bỏ lò vi sóng” không tạo ra acrylamide.

Ngâm khoai tây sống trong nước 15-30 phút trước khi rán hoặc nướng sẽ giúp giảm sự hình thành acrylamide trong khi nấu. (Khoai tây sau khi ngâm cần để ráo nước hoặc thấm khô trước khi chiên để ngăn mỡ bắn có thể gây cháy.)

Bảo quản khoai tây trong tủ lạnh có thể làm tăng lượng acrylamide trong khi nấu. Do đó, hãy để khoai tây ngoài tủ lạnh, tốt nhất là ở nơi mát và tối để ngăn mọc mầm.

Nói chung, acrylamide sẽ tích lũy nhiều hơn nếu rán kỹ trong thời gian dài hoặc ở nhiệt độ cao. Với khoai tây thái miếng hoặc thái lát chỉ nên chiên hoặc nướng đến khi miếng khoai có màu vàng nhạt để giảm sự hình thành acrylamide. Những chỗ màu nâu sẫm thường chứa nhiều acrylamide hơn.

Chỉ nướng bánh mì đến khi có màu nâu nhạt để giảm lượng acrylamide. Không nên ăn những chỗ có màu nâu sẫm hoặc cháy đen vì những chỗ đó có nhiều acrylamide nhất.

Acrylamide hình thành trong cà phê khi hạt cà phê được rang, chứ không phải khi pha cà phê ở nhà hoặc ở quán. Cho đến nay, các nhà khoa học chưa tìm ra cách nào để giảm sự hình thành acrylamide trong cà phê.

Cẩm Tú

Theo Daily Mail và FDA

Từ khóa tìm kiếm: an khoai tay, khoai tay chien, thuc pham, khoi thuoc, aa hinh thanh, nhiet do cao, hinh thanh trong, bao gom khoai tay, bim bim khoai tay, ca phe, phoi nhiem acrylamide, khoai tay, khi co mau, mau vang nhat, chi nuong banh mi,
Màu sắc vòng 1 thay đổi Một khối u bất thường là dấu hiệu của ung thư vú mà mọi người thường biết đến. Tuy vậy, có những sự thay đổi của v... https://lh3.googleusercontent.com/-LjJ7rlb2W8Y/VaaErOxse3I/AAAAAAAAWiY/vXwg2UAC9pg/s72-c/nhung-trieu-chung-ung-thu-phu-nu-thuong-bo-qua-606-skgunhung_trieu_chung_ung_thu_don_gian_da_phan_phu_nu_bo_qua_1_eent.jpg

Những triệu chứng ung thư phụ nữ thường bỏ qua

Màu sắc vòng 1 thay đổi

Một khối u bất thường là dấu hiệu của ung thư vú mà mọi người thường biết đến. Tuy vậy, có những sự thay đổi của vòng 1 dễ nhận biết hơn để xác định dấu hiệu ung thư. Nếu bạn nhận thấy làn da của vòng 1 có những thay đổi, núm vú sưng, đau thì đó có thể là dấu hiệu của ung thư vú.

Theo các chuyên gia, có những dấu hiệu này chưa chắc đã là bị ung thư nhưng bạn cần tìm sự giúp đỡ cần thiết của bác sĩ trước khi quá muộn. Đây là một trong những triệu chứng ung thư đơn giản mà đa phần phụ nữ bỏ qua.

Nhung trieu chung ung thu phu nu thuong bo qua

Đầy hơi Gần như tất cả phụ nữ đều đã từng than phiền về việc bị đầy hơi, đặc biệt là trong thời kỳ kinh nguyệt. Nhưng nếu nhận thấy sau thời kỳ kinh nguyệt vẫn bị đầy hơi và cảm thấy bị táo bón thì đó có thể là dấu hiệu ung thư buồng trứng hoặc tử cung. Nếu gặp những triệu chứng này, hãy đến gặp bác sĩ để được kiểm tra sớm nhất.

Kinh nguyệt bất thường

Việc kinh nguyệt không đều có lẽ khá phổ biến với phụ nữ. Nhưng nếu kinh nguyệt của bạn đột nhiên có những thay đổi rất bất thường, tháng này nhiều hơn rất nhiều so với tháng trước hoặc bạn bị đau vùng xương chậu, hãy hỏi bác sĩ để kiểm tra tử cung, buồng trứng ngay lập tức.

Ho mãn tính

Mọi người đều có thể bị cảm lạnh và một vài cơn ho ngắn. Nhưng nếu cơn ho của bạn kéo dài 3 tuần hoặc hơn thế và không có các triệu chứng khác đi kèm thì có thể đó là dấu hiệu sớm của ung thư phổi. Ngoài ra, dấu hiệu sớm của bệnh ung thư máu có thể là viêm phế quản hoặc đau ngực.

Đau bụng hoặc buồn nôn

Đau dạ dày là khá phổ biến và hiếm khi đó là dấu hiệu của ung thư. Nhưng nếu bạn có cơn đau bụng dai dẳng hoặc đột nhiên buồn nôn thì đó là dấu hiệu xấu. Cơn ho đó có thể đơn giản được bật ra từ một vết loét nhưng cũng có thể đó là dấu hiệu của bệnh bạch cầu cấp hoặc ung thư thực quản, gan, tụy…

Khó nuốt

Một cơn đau họng có thể gây cho bạn khó nuốt hoặc đau đớn. Nhưng nếu bạn nhận thấy nó kéo dài trong vài tuần và ngày trở nên tồi tệ thì hãy đến gặp bác sĩ. Đây có thể dấu hiệu của ung thư dạ dày hoặc ung thư phổi.

Có vết bầm tím quá mức

Bạn thức dậy với một vết bầm tím? Nó có thể chỉ là do bạn đã vấp phải một cái gì đó mà không để ý. Nhưng nếu nhận ra rằng vết bầm này nặng lên theo thời gian và đặc biệt ở những nơi như bàn tay hoặc ngón tay, bạn cần cảnh giác. Bầm tím bất thường là dấu hiệu của bệnh bạch cầu cấp (ung thư máu).

Giảm cân không rõ nguyên nhân

Bạn có thể đang trong chế độ ăn kiêng để giảm cân một cách hiệu quả. Nhưng nếu trọng lượng cơ thể mất mát hoặc thay đổi một cách bất thường dẫn đến đến sự thèm ăn triền miên thì đó có thể là dấu hiệu của ung thư thực quản, tụy, gan, ruột kết…

Mệt mỏi dai dẳng

Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi mỗi ngày trong hơn 1 tháng hoặc cảm thấy khó thở trong thời gian dài thì hãy cẩn thận. Đó có thể là dấu hiệu của ung thư.

Đau đầu mãn tính

Nếu bạn hiếm khi bị đau nửa đầu hoặc không bao giờ đau đầu nhưng trong thời gian gần đây lại thường xuyên xuất hiện các cơn đau đầu dữ dội thì nó có thể là dấu hiệu của một khối u não.

Vết loét trong miệng

Một vết loét trong miệng có thể được chữa lành dễ dàng khi bạn đến gặp nha sĩ. Nhưng nếu gặp phải vết loét không lành và nỗi đau lây lan ra xung quanh với những mảng màu trắng hoặc đỏ trên nướu, lưỡi thì đó có thể là dấu hiệu của ung thư miệng.

Theo danviet.vn
Từ khóa tìm kiếm: thay doi, khoi u,
Vi khuẩn HP là nguyên nhân hàng đầu gây viêm loét dạ dày và làm tăng 2-6 lần nguy cơ ung thư dạ dày. Vì vậy, tiệt trừ thành công vi khu... http://lh3.googleusercontent.com/-k6QN0fwqDLU/VaXZ1VRiDsI/AAAAAAAAWYA/L-4yzkUJKc8/s72-c/nguy-co-ung-thu-tu-vi-khuan-hp-1098958.htm-HP-15715-4c2e4.jpg

Vi khuẩn HP gây ung thư dạ dày như thế nào?

Vi khuẩn HP là nguyên nhân hàng đầu gây viêm loét dạ dày và làm tăng 2-6 lần nguy cơ ung thư dạ dày. Vì vậy, tiệt trừ thành công vi khuẩn HP sẽ làm giảm tần suất tái phát viêm loét dạ dày và giảm rõ rệt nguy cơ mắc ung thư dạ dày.

Vi khuan HP gay ung thu da day nhu the nao

Vi khuẩn HP gây ung thư dạ dày như thế nào?

Hiện nay, một số tạp chí y học thế giới cho biết khoảng 50% dân số thế giới bị nhiễm HP. Tại Việt Nam, theo Hiệp hội tiêu hóa gan mật, khoảng 60% dân số đang nhiễm HP.

Một điều cần lưu ý là không phải khi bị nhiễm vi khuẩn HP là sẽ bị viêm loét dạ dày tá tràng hoặc ung thư. Chỉ 14% người nhiễm HP sẽ tiến triển thành bệnh loét dạ dày - tá tràng, khoảng 1% trường hợp tiến triển thành ung thư dạ dày. Điều này là do mối tương tác giữa chủng HP bị nhiễm với đặc điểm di truyền và các thói quen ăn uống (đặc biệt là hút thuốc lá, ăn các thức ăn mặn hoặc thức ăn được ngâm ướp bảo quản...) của người bị nhiễm.

Khi đó, H. pylori sẽ xâm nhập lớp chất nhầy niêm mạc dạ dày và sản xuất ra catalase, protease, ngoại độc tố, các chất này làm tổn thương niêm mạc dạ dày, gây viêm loét dạ dày tá tràng và có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như hẹp môn vị, thủng ổ loét, xuất huyết da dày, nếu không cấp cứu kịp có thể gây tử vong.

Thông thường trong những năm đầu nhiễm vi khuẩn HP người bệnh sẽ mắc các bệnh về viêm loét dạ dày tá tràng. Và điều đáng chú ý là có tới 70-80% người nhiễm vi khuẩn HP không hề có triệu chứng gì cho đến khi niêm mạc dạ dày bị tổn thương sâu, các tế bào bị xơ, viêm teo và bị thay thế bằng các mô sản ruột (di sản ruột).

Sự viêm teo mạn tính kết hợp với mô sản ruột lan tỏa lâu ngày khiến sản sinh ra các tế bào ung thư ở dạ dày. Triệu chứng lâm sàng của viêm dạ dày thông thường và ung thư dạ dày khó phân biệt, đều là đau rát vùng thương vị, đầy bụng, khó tiêu, chỉ chẩn đoán phân biệt khi nội soi dạ dày để quan sát tổn thương và lấy mẫu tế bào sinh thiết, làm các xét nghiệm khác.

Đại đa số bệnh nhân ung thư dạ dày khi đau quá không chịu được, gầy sút nhanh mới đến viện khám thì đã ở giai đoạn nguy hiểm, nên tiên lượng rất xấu, chỉ có 15% bệnh nhân sống thêm được 5 năm.

Ung thư dạ dày có thể lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể và cơ hội hồi phục thấp, gây tỷ lệ tử vong rất cao. Thời gian sống của người mắc bệnh trung bình thường dưới 1 năm bất kể khối u ban đầu nằm ở vị trí nào. Hiện tại, chưa có phương pháp nào để kéo dài khoảng thời gian này.

Vì vậy việc phát hiện và điều trị vi khuẩn HP là cách giúp bạn loại bỏ được 50% nguy cơ mắc ung thư dạ dày (50% còn lại thuộc nhóm nguyên nhân khác).

Khi phát hiện có nhiễm H.P và có triệu chứng viêm loét dạ dày - tá tràng, cần tiến hành điều trị sớm và triệt để bằng các phác đồ kháng sinh kết hợp với thuốc giảm tiết acid.

Tuy nhiên các bác sĩ cũng cảnh báo môi trường a-xít dịch vị có thể làm mất tác dụng của các thuốc kháng sinh, khuẩn H. pylori lại nằm sâu dưới lớp nhày và trong môi trường a-xít có thể dễ dàng “lẩn trốn” được thuốc điều trị bệnh. Đó là nguyên nhân chính khiến cho H. pylori có khả năng kháng thuốc và tiếp tục gây bệnh, sau nhiều đợt điều trị kháng sinh dài ngày mà bệnh cứ tái đi tái lại.

Nhiều người bệnh trị viêm loét dạ dày - tá tràng uống quá nhiều kháng sinh đâm ra sợ thuốc do các tác dụng phụ như loạn khuẩn đường ruột gây rối loạn tiêu hóa, chán ăn, cơ thể mệt mỏi, tổn thương gan thận, từ đó bỏ dở quá trình điều trị. Đây là một trong những nguy cơ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như xuất huyết, thủng dạ dày - tá tràng, ung thư dạ dày.

Từ khóa tìm kiếm: vi khuan hp, nguyen nhan, gay viem loet da day, viem loet da day, ung thu da day vi,
Để tránh tăng cân , người bị ung thư có thể áp dụng chế độ ăn biến đổi kết cấu, tức là làm cho thực phẩm trở nên dễ nhai bằng cách xay ... http://lh3.googleusercontent.com/-0EP25ZtzIm8/VaValVyXL-I/AAAAAAAAWUI/xRxgTq7d2hY/s72-c/che-do-an-kieng-giup-benh-nhan-ung-thu-kiem-soat-c-choosing-healthy-food-9958-1436773719.jpg

Chế độ ăn kiêng giúp bệnh nhân ung thư kiểm soát cân nặng

Để tránh tăng cân, người bị ung thư có thể áp dụng chế độ ăn biến đổi kết cấu, tức là làm cho thực phẩm trở nên dễ nhai bằng cách xay nhuyễn, băm và làm mềm thức ăn.

Các chuyên gia dinh dưỡng thuộc Trung tâm ung thư PCC Singapore cho biết, cách đơn giản giúp bệnh nhân ung thư kiểm soát cân nặng là áp dụng chế độ ăn biến đổi kết cấu, tức là làm cho thực phẩm trở nên dễ nhai và an toàn hơn. Thay vì chỉ chế biến như thông thường, bạn nên xay nhuyễn, băm và làm mềm thực phẩm sẽ dễ tiêu hóa hơn. Bạn cần có một trong các dụng cụ như máy chế biến thức ăn, máy xay thực phẩm hoặc máy xay sinh tố, máy ép, rây (nếu áp dụng chế độ ăn xay mịn).

choosinghealthyfood99581436773719jp
[Ảnh minh họa: Health .

Lưu ý: Mỗi người có thể chọn phương pháp biến đổi kết cấu thực phẩm khác nhau tùy vào khả năng nhai của mình. Tốt nhất bệnh nhân ung thư nên gặp chuyên gia dinh dưỡng để được tư vấn trong trường hợp điều kiện sức khỏe đòi hỏi phải ăn chế độ này lâu dài. Về cơ bản có 3 chế độ ăn kiêng biến đổi kết cấu thực phẩm được khuyến khích như sau:

1. Chế độ ăn xay mịn

Thức ăn xay thường đặc, mềm mịn, đồng nhất, không bị lợn cợn. Dựa vào bảng gợi ý các thực phẩm nên dùng thường xuyên và nên tránh sau đây, bạn có thể thiết lập thực đơn phù hợp mỗi ngày cho mình:

Thực phẩm Nên ăn Không nên ăn  Tinh bột Nên ăn sáng với ngũ cốc thô, không có hình miếng. Chẳng hạn như bột yến mạch, cháo, ngũ cốc Nestum xay nhuyễn.

Có thể ăn mì ống, mì sợi, bún, phở xay nhuyễn, cháo xay nhuyễn hoặc cháo bình thường.

Không nên ăn ngũ cốc còn hạt hoặc miếng lớn.

Tất cả các loại ngũ cốc khô.

Tất cả các loại bánh mì. Bánh quy giòn.

 Rau củ Rau củ nên bóc vỏ, nấu chín, xay nhuyễn. Khoai tây xay nhuyễn cho đến khi không còn lợn cợn.

Tất cả các loại rau củ có vỏ cứng, mắt, hạt. Nếu dùng, cần loại bỏ các bộ phận này trước khi xay.  Trái cây Nấu chín, bỏ vỏ và xay nhuyễn. Trái cây xay chưa kỹ còn những lợn cợn có thể nhìn thấy được.  Chế phẩm sữa Sữa chua (không còn lợn cợn) như sữa chua nguyên chất, nước sốt mịn có thành phần từ sữa như sốt phô mai, bánh sữa trứng. Sữa chua có trái cây xắt hạt lựu hoặc có mắt.

Tất cả các loại pho mát cứng và hơi cứng bao gồm cả phô mai dạng hạt.

 Thịt, cá, gia cầm, trứng, các loại hạt, các loại đậu Thịt, cá cần xay nhuyễn, bỏ tất cả da và chất béo trước khi chế biến.

Đậu nướng, đậu lăng, đậu xanh nên xay mềm.

Đậu phụ nên chọn loại lụa mềm.

Trứng nên bỏ vỏ và hấp. Thịt băm hoặc xay nhuyễn một phần. Trứng đánh.

Các loại thực phẩm dẻo như bơ đậu phộng, pate.  Tráng miệng Món sữa tráng miệng như sữa trứng, mousse, bánh tráng miệng, kem. Tráng miệng với trái cây xắt miếng, hạt, bánh ngọt hoặc đồ trang trí không xay nhuyễn.  Bữa phụ - Súp đã được chế biến hoặc lọc sạch các lợn cợn. - Mứt, gia vị và nước sốt dễ nuốt.

- Đồ ngậm dễ nuốt. Súp còn lợn cợn. Mứt và gia vị với hạt, bột hoặc lợn cợn.

Chú ý trong lúc chế biến: Không nghiền toàn bộ đồ ăn chung với nhau mà làm từng món và dùng riêng.  Thay đổi món để dễ ăn. Để tiết kiệm thời gian, chuẩn bị sẵn các phần ăn dư ra của mỗi món nghiền và để đông lạnh cho mỗi lần dùng. Sử dụng chất lỏng như kem chua, súp, kem hoặc nước ép trái cây để bổ sung năng lượng và tăng vị giác khi chuẩn bị các món xay. Các thực phẩm dành cho em bé có bán trên thị trường (6-12 tháng tuổi) là lựa chọn tốt cho bạn khi đi du lịch nếu đang áp dụng chế độ ăn mịn. Riêng với thịt, nên nghiền thịt thô và nấu một lần nữa để loại bỏ sạn và các tạp chất.

2. Ăn kiêng theo chế độ cắt nhỏ

Thức ăn được cắt nhỏ và nghiền bằng nĩa dễ dàng, có thể là các món xay chưa nhuyễn hoặc còn lợn cợn. Nên ăn thực phẩm mềm và tan trong miệng.

Thực phẩm Nên ăn Không nên ăn  Tinh bột Ăn sáng với ngũ cốc loại mềm, nhỏ như cháo bột yến mạch, bánh quy làm từ lúa mì ngâm trong sữa nóng.

Cháo nấu bằng gạo tấm.

Các loại mì như mì trứng, mì udon có thể xay hoặc nghiền.

Tất cả các loại bánh mì, bánh kẹp, bánh ngọt, bánh quy giòn và khô. Gạo không dính như gạo đồ, gạo hạt dài.

Mì chiên giòn hoặc khô.

 Rau củ Rau củ nấu chín và dễ nghiền nát bằng nĩa như khoai tây, khoai lang, bí đỏ.

Rau xay nhuyễn như đậu Hà Lan, bắp, cà rốt…

Tất cả các loại rau củ có vỏ cứng, mắt, hạt. Nếu dùng, cần loại bỏ các bộ phần này trước khi xay.  Trái cây Trái cây tươi nghiền mềm như chuối, xoài, kiwi. Trái cây thái lát mềm mịn, xắt hạt lựu đóng hộp hoặc nấu chín như lê, đào.

Trái cây xay nhuyễn.

Các miếng lớn hoặc khó nghiền bằng nĩa. Trái cây khô.

Trái cây có nhiều chất xơ như dứa (thơm).

 Chế phẩm sữa Sữa chua (có thể có thêm trái cây mềm thái nhỏ). Phô mai rất mềm, viên nhỏ, chẳng hạn như phô mai, kem phô mai.

Sữa chua với trái cây có gai hoặc cứng. Nếu ăn phô mai mềm thì nên ăn phô mai camembert hoặc brie (phô mai mềm của Pháp), tránh ăn vỏ.

Phô mai cứng.

 Thịt, cá, gia cầm, trứng, các loại hạt, các loại đậu Thịt băm, mềm với nước sốt hoặc nước thịt. Thịt hầm hoặc món luộc có thể được chế biến để giảm kích thước của món đó.

Cá trộn hoặc băm nhỏ, nghiền với nước sốt.

Trứng rất mềm và ướt, như trứng đánh.

Đậu nấu chín kỹ như đậu hầm, đậu lăng, nghiền nát một phần.

Đậu hũ mềm thái nhỏ.

Món ăn băm nhỏ khó nhai và dai, như đậu Hà Lan, hành tây. Bánh giòn hoặc bánh ngọt và bánh nướng.

Thịt có xương sụn.

Hạt.

 Tráng miệng Bánh tráng miệng mềm mịn như bánh mousse, bánh trứng sữa,bánh pudding. Món sữa tráng miệng như sữa trứng, sữa chua, kem.

Món bánh tráng miệng mềm với nhiều sữa trứng, kem sữa hoặc kem.

Món tráng miệng làm từ trái cây mềm.

Bánh pudding gạo hoặc bánh kem gạo.

Tráng miệng với trái cây thái miếng lớn hoặc khó nhai như: nho, hạt hoặc dừa Vụn cứng như vụn táo.

Bánh tráng miệng làm từ bánh mì.

 Bữa phụ Súp, có thể còn lợn cợn như mì hoặc mì ống. Chocolate mịn, loại có thể tan trong miệng.

Mứt và gia vị không có hạt hoặc trái cây sấy khô.

Súp với phần lớn thịt hoặc rau, bắp hoặc gạo.

Kẹo bao gồm các loại thạch trái cây, kẹo cứng, kẹo bơ cứng và kẹo dẻo.

Thức ăn nhanh mà không thể nghiền bằng nĩa như sushi, pizza.

Thi Ngoan

Theo suckhoe.vnexpress.net